'Nên chuyển hướng đưa lao động trình độ cao ra nước ngoài'

'Nên chuyển hướng đưa lao động trình độ cao ra nước ngoài'

Các đại biểu đề nghị chuyển trọng tâm từ đưa nhiều lao động phổ thông sang nhân lực có chuyên môn,đồng thời xây dựng cơ chế sử dụng kỹ năng của họ sau khi về nước.Chiều 5/8,Quốc hội thảo luận tổ về dự án Luật sửa đổi,bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.Dự luật định hướng nâng cao chất lượng lao động ra nước ngoài,ưu tiên các ngành nghề Việt Nam có nhu cầu nhân lực trong tương lai và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sau khi về nước. Tuy nhiên,nhiều đại biểu cho rằng quy định mới dừng ở nguyên tắc,chưa đủ cơ chế để thực hiện.Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn,chuyên trách tại Ủy ban Khoa học,Công nghệ và Môi trường,cho rằng chính sách cần chuyển từ mục tiêu "đưa bao nhiêu người" sang "đưa người như thế nào và thu về được gì".Theo số liệu ông dẫn,hiện có gần 900.000 lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài,gửi về hơn 6 tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên,thu nhập chênh lệch lớn theo trình độ và thị trường. Lao động Việt Nam tại Nhật Bản,Đài Loan nhận khoảng 1.300 USD mỗi tháng,tại Hàn Quốc khoảng 1.600 USD,trong khi ở Đức và Đan Mạch có thể đạt 4.000 USD."Cùng một lao động,chỉ cần nâng trình độ và chuyển thị trường thì giá trị tạo ra tăng 2-3 lần mà không cần tăng số người đi",ông Sơn nói.Theo ông,đây là dư địa tăng trưởng dựa trên năng lực của người lao động,thay vì tiếp tục tăng số người ra nước ngoài. Hướng đi này cũng giúp giảm tình trạng lao động trẻ rời thị trường trong nước,trong bối cảnh nhiều địa phương mở rộng khu công nghiệp nhưng thiếu nhân lực.Để việc chuyển hướng có thể triển khai,các đại biểu đề nghị luật xác định rõ ngành nghề,thị trường ưu tiên và chính sách đào tạo nhân lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn,Công nghệ và Môi trường. Ảnh: Ngọc ThànhĐại biểu Trần Lan Phương,Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,cho rằng lao động được đưa ra nước ngoài nên tập trung vào nhóm đã qua đào tạo,có trình độ chuyên môn,kỹ thuật,nhất là các lĩnh vực Nhà nước ưu tiên phát triển.Bà đề nghị giao Chính phủ quy định tiêu chí lựa chọn ngành nghề,thị trường,đồng thời có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường và đào tạo lao động trong các lĩnh vực như bán dẫn,điện tử,công nghệ số. "Nếu chỉ quy định nguyên tắc thì trên thực tế rất khó triển khai",bà Phương nói.Cùng với nâng chất lượng lao động trước khi ra nước ngoài,dự luật được đề nghị bổ sung cơ chế tiếp nhận và sử dụng họ sau khi hoàn thành hợp đồng.Theo các đại biểu,đây có thể trở thành một kênh đào tạo nhân lực,tiếp nhận kỹ năng và công nghệ cho Việt Nam. Thực tế,nhiều lao động trở về đã có thêm ngoại ngữ,kinh nghiệm,kỹ năng nghề và tác phong làm việc. Tuy nhiên,Việt Nam chưa có cơ chế đầy đủ để thống kê,công nhận năng lực và kết nối họ với doanh nghiệp trong nước.Đại biểu Phạm Thu Xanh,Giám đốc Bệnh viện Sản nhi Hải Phòng,đề nghị dự luật bổ sung chính sách tiếp nhận,sử dụng và phát huy nguồn nhân lực này,tránh lãng phí kỹ năng đã tích lũy ở nước ngoài.Các đại biểu cũng kiến nghị luật quy định trách nhiệm ghi nhận kỹ năng nghề của lao động hồi hương trong cơ sở dữ liệu quốc gia; giao UBND cấp tỉnh kết nối họ với doanh nghiệp,nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn.Với lao động thuộc hộ nghèo,người dân tộc thiểu số,ông Sơn đề nghị có cơ chế đặc thù hỗ trợ đào tạo nghề và ngoại ngữ. Theo ông,khả năng kết nối việc làm sau hồi hương sẽ quyết định gần 900.000 lao động ở nước ngoài trở thành nguồn nhân lực có giá trị hay bị lãng phí khi trở về.Hiện nay,khoảng 860.000 lao động Việt Nam làm việc tại hơn 40 quốc gia,vùng lãnh thổ,gửi về nước ước tính 6,5-7 tỷ USD mỗi năm. Nhật Bản,Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc là ba thị trường tiếp nhận lớn nhất. Lao động phổ thông hoặc chỉ qua đào tạo ngắn hạn chiếm khoảng 85-90% tổng số người xuất cảnh; lao động có trình độ chuyên môn,kỹ thuật cao chiếm 10-15%. Phần lớn làm việc trong các ngành sản xuất,chế biến,chế tạo,xây dựng,cơ khí,nông nghiệp,ngư nghiệp và giúp việc gia đình.Sơn Hà